Tuyển sinh

Bảng xếp hạng đại học: chỉ có tính “tham khảo”!?

(Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế II) – Sau khi bảng xếp hạng các trường đại học Việt Nam được công bố – nhiều người đặt câu hỏi về giá trị của bảng xếp hạng là gì?

Sáng 7/9, sau khi đề nghị lãnh đạo một số trường cho ý kiến ​​về “Bảng xếp hạng đại học”, phóng viên đều nhận được lời từ chối vì theo nhiều trường – xếp hạng – ngay từ đầu. Cơ sở dữ liệu đầu vào thiếu, thiếu khách quan (nhiều thông tin được lấy ngay từ trang web của trường). Về cơ bản, Bảng xếp hạng chỉ là “cho vui” … không nói gì cả !?

Vấn đề đầu tiên của bảng xếp hạng nằm trong dữ liệu sử dụng. Nguồn dữ liệu mà nhóm tác giả thu thập bao gồm cả báo cáo từ các trường và dữ liệu từ các trang web của trường – đây được coi là nguồn dữ liệu chủ quan, nếu không muốn nói là mang tính chất quá “PR”.

Ngay cả nhóm nghiên cứu cũng phải thừa nhận về tính minh bạch của dữ liệu – rằng dù có dữ liệu nhưng có 3 không: Không nhất quán, không đáng tin cậy và không cập nhật.

Nếu xếp hạng dựa trên dữ liệu không đáng tin cậy, kết quả sẽ có nhiều vấn đề, không đơn giản chỉ là đưa ra để… tạo động lực cho các trường đại học ở Việt Nam thực hiện cải cách – như mong muốn của các trường đại học. Các nhà nghiên cứu.

Vấn đề thứ hai, đó là sự “khập khiễng” khi so sánh quy mô giữa một hệ thống trường lớn và một trường đại học đơn lẻ.

Ví dụ, không thể so sánh hệ thống của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (6 trường đại học thành viên) hay Đại học Quốc gia Hà Nội (7 trường đại học thành viên) với một trường đại học đơn thuần khác.

Sinh viên ĐH Quốc tế trong giờ học (Ảnh: BN)

Khi so sánh như vậy, ngay cả số liệu về quy mô đào tạo, đội ngũ giảng viên, số sinh viên tốt nghiệp / đại học cũng có sự chênh lệch quá lớn, chưa kể hình thức liên kết đào tạo – một trường liên kết với nhiều trường để đào tạo tại các ngành, hay hình thức đào tạo theo hệ vừa học vừa làm.

Vấn đề thứ ba, Theo tiêu chí của bảng xếp hạng, chỉ số “nghiên cứu khoa học” được chọn làm điểm nhấn (chiếm 40% tổng điểm), nhưng thực tế ở Việt Nam, số lượng nghiên cứu khoa học ứng dụng vào thực tiễn rất cao. thực ra không nhiều – hoặc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu.

Trong khi đó, nhóm nghiên cứu độc lập dựa vào số lượng bài báo nghiên cứu đăng trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI. Theo một số chuyên gia, tình trạng đạo văn, mua bài, “đua nhau xuất bản” không hiếm và việc trường có nhiều bài báo đăng trên ISI rõ ràng “chẳng giúp ích gì” cho công tác đào tạo. sinh viên và không nói lên chất lượng đào tạo.

Nếu đặt tiêu chí “số lượng công trình nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào thực tế” thì trong trường hợp này càng có ý nghĩa.

Vấn đề thứ tư, ngay cả khi không có bảng xếp hạng, nhiều trường đại học đã tự chuẩn hóa và được các tổ chức quốc tế công nhận. Đây là một trong những tiêu chí khách quan quan trọng, tại sao nó lại không được đưa vào tiêu chí xếp hạng?

Chẳng hạn, HCERES – tổ chức kiểm định uy tín được công nhận bởi Hiệp hội Kiểm định Chất lượng Châu Âu – ENQA (European Association for Quality Assurance in Higher Education) đã kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và cấp chứng chỉ cho 4 trường Đại học: Đại học Bách khoa TP.HCM (ĐHQGHN). TP.HCM), Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa Đà Nẵng và Đại học Xây dựng đã đạt kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn HCERES nói riêng và kiểm định quốc tế nói chung.

Hoặc, Đại học Quốc tế có 6 chương trình ở các khoa đạt tiêu chuẩn AUN. Bộ tiêu chuẩn AUN-QA được AUN ban hành năm 2004, với mục tiêu thúc đẩy quá trình đảm bảo chất lượng giáo dục của các trường đại học trong khu vực, hướng tới sự cơ động của người học trong việc tích lũy tín chỉ từ các trường đại học. Chương trình đáp ứng tiêu chuẩn của các trường trong mạng lưới…

Cùng với đó, việc mở rộng hợp tác quốc tế, liên kết đào tạo cũng được nhiều trường áp dụng. Việc đào tạo chương trình liên kết giúp sinh viên được học tập trong môi trường quốc tế, có nhiều học bổng nước ngoài, nhà trường hỗ trợ hồ sơ chuyển tiếp, sau khi tốt nghiệp sẽ được cấp bằng do các trường đại học nước ngoài cấp. bằng cấp được công nhận …

Trong khi nhiều trường từng bước phát triển theo hướng chuẩn quốc tế thì các tiêu chí xếp hạng trên dường như bị bỏ qua.

Vấn đề thứ năm quan trọng hay nói đúng hơn là “quá quan trọng” và gần như quyết định hoàn toàn tiêu chí chọn trường, chọn ngành của nhiều phụ huynh và học sinh – đó là tiêu chí “tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp”. “.

Tuy nhiên, đáng tiếc là chỉ số “kết quả việc làm của sinh viên tốt nghiệp sau 6 tháng ra trường”, nhóm nghiên cứu chỉ thu thập thông tin từ 15 cơ sở đào tạo. Và yếu tố này do đó không được coi là tiêu chí xếp hạng.

49 cơ sở giáo dục đại học bao gồm 5 đại học quốc gia và vùng, 5 học viện, 39 trường đại học công lập và tư thục đã được lựa chọn theo nhiều tiêu chí và đưa vào bảng xếp hạng. Tuy nhiên, bảng xếp hạng này bị “lệch” khá nhiều về chất lượng tuyển sinh, tính năng động / khả năng của sinh viên sau khi tốt nghiệp và yếu tố nhà tuyển dụng luôn “ưu ái” sinh viên đại học. đứng đầu.

Một bảng xếp hạng không phản ánh đầy đủ những gì một trường đại học đang làm và chất lượng thực sự của nó sẽ gây ra rất nhiều tranh cãi. Và nếu không coi thứ hạng là thước đo chất lượng đào tạo thì có thể ảnh hưởng rất lớn đến trường cũng như quyết định chọn trường, ngành học của học sinh.

Bạn thấy bài viết Bảng xếp hạng đại học: chỉ có tính “tham khảo”!? có giải quyết đươc vấn đề bạn tìm hiểu không?, nếu  không hãy comment góp ý thêm về Bảng xếp hạng đại học: chỉ có tính “tham khảo”!? bên dưới để yt2byt.edu.vn có thể chỉnh sửa & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế II

Chuyên mục: Giáo dục
#Bảng #xếp #hạng #đại #học #chỉ #có #tính #tham #khảo

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button