Hình ảnh

Giỏi Văn – Bài văn: Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” (1)

Hình ảnh người lính Việt Nam nói chung và những người lính thời kỳ chống Pháp nói riêng từ lâu đã đi vào văn học như một nguồn thi cảm. Các thi sĩ viết về người lính với tất cả niềm tự hào, tự hào. Giữa muôn vàn những tác phẩm tương tự, Tây Tiến là bài thơ có vị trí đặc trưng. Dù ra đời vào năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, vậy nhưng hơn nửa thế kỷ sau, chất lãng mạn – hào hùng của tác phẩm vẫn còn sức hấp dàn lay động, làm say mê bao tâm hồn. Trong Tây Tiến, người ta thấy hiện lèn sừng sững bức tượng đài người lính, Những con người rất thật, rất đẹp, rất có hồn, trường tồn, bất tử mãi mãi với ko gian, thời kì!

Thật vậy!

Lúc gấp trang Tây Tiến lại, nhiều người trong số chúng ta có thể tìm ra lơi trả lời cho ranh giới giữa sự giống và không giống nhau trong các tác phẩm văn học. Thực ra Tây Tiến ko phải một tác phẩm có đề tài mới lạ. Tất cả những gì nhưng nó trình bày cũng chi xoay quanh hình ảnh người lính. Nhưng ở Tây Tiến người ta ko thấy những đau thương mất mát tới bi luỵ, lại càng ko thấy những lời động viên hô hào tới sáo mòn. Người lính của Quang Dũng đã bước từ khuôn mẫu gò bó để tới với đời thực, với hiện thực kháng chiến khó khăn bộn bề. Chính tính chân thực đó đã tạo khả năng hướng ngoại cho tác phẩm, tạo mối dây liên kết gắn bó giữa hình tượng thơ và độc giả trong suốt chặng đường lịch sử dài. Tây Tiến đã tái tạo và bất tử được hình ảnh binh đoàn Tây Tiến đẹp tỏa sáng. Nhũng người lính Thủ đô đi vào cuộc kháng chiến mang theo vẹn nguyên cái mộng mơ của người con đất Hà Thành, Bài thơ cứ triền miên trong nỗi nhớ, để rồi từ đây, một thời khó khăn, một thời mê say được gợi lại. Đoàn binh Tây Tiến tới với chúng ta ko chỉ với tư cách những chiến sĩ từng trải qua khó khăn khó khăn nhưng còn với tư cách những chàng trai lãng mạn nhưng ko kém kiêu dũng. Đối với mỗi người con Việt Nam, họ đã trở thành người hùng trong trang sử vàng dân tộc.

Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên, trước hết là qua dòng hồi ức ngập tràn đong đầy của thi sĩ. Đây cũng là một nét khác lạ của tác phẩm. Ko giống như nhiều bài thơ khác được ghi lại ngay sau các sự kiện lịch sử, Tây Tiến chỉ thuần tuý như những kỷ niệm riêng của Quang Dũng về một thời kì kho mê say. Vì vậy, tính thời sự chỉ mất đi chút ít, nhưng tính trữ tình lại được thêm vào rất nhiều. Đó là nỗi nhớ ắp đầy trong vòng trống câu chữ, nhưng lúc nào đọc lên người ta cũng xúc động nghẹn ngào. Cả bài thơ, kỷ niệm lúc nào cũng thi nhau gợi về, tưởng như nỗi nhớ đã có từ lâu lắm, để rồi tới hôm nay mới có dịp vỡ oà:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Câu thơ như lời gọi mời, gợi nhớ, gọi nhắc về một thời quá khứ khó khăn nhưng đẹp vô cùng. Mở đầu bài thơ, người chiến sĩ Tây Tiến ko hiện lên trực tiếp nhưng gián tiếp qua hình tượng “Sông Mã”. Dòng sông Mã ko chỉ là chứng nhân lịch sử đồng hành cùng binh đoàn Tây Tiến nhưng còn là biểu tượng cho những chiến sĩ Tây Tiến oai hùng. Đứng ở ngày nay và đưa mắt về quá khứ trong Quang Dũng dâng tràn một xúc cảm khó tả. Nòi nhớ “chơi vơi”. Người đọc như được nhập thân vào với tác giả để cảm nhận những thổn thức, mong mỏi, khát khao trong lòng người. Hình như trong nồi nhớ đó là cả chút gì hụt hẫng, nao lòng, cứ mơn man, lan toả, thấm sâu vào cảnh vật, con người. Đó cũng là xuất phát điểm bài thơ, để từ đó nỗi nhớ nhung của thi sĩ tự nó gọi về, tạo nên một Tây Tiến bất hủ.

Trong dòng hồi ức của Quang Dũng, người lính Tây Tiến hiện lên song hành với biết bao khó khăn, khó khăn.

Lúc nói tới chiến tranh, ấn tượng muôn thuở bao giờ cũng là sự đau thương, chia phôi, sự tang thương, buồn thảm. Đời lính đấu tranh vì thế ko thể tránh khỏi những vất vả, khó khăn. Nhưng ngoài những trở ngại chung toàn non sông thời đó, người lính Tây Tiến còn phải chịu đựng nhiều khó khăn riêng cho địa hình đóng quân khắc nghiệt, hiểm trở mang lại:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Hai câu thơ là bốn nét vẽ khó khăn đầy ấn tượng. Nếu câu thơ đầu gieo hồ hết thanh trắc thì câu thơ thứ hai lại gieo 9/14 thanh bằng. Cái tài của Quang Dũng là dù gieo thanh bằng hay thanh trắc vẫn giúp người đọc trông thấy cái trúc trắc lồi lõm đầy nguy hiểm của địa hình. Quả thực “thi trung hữu nhạc, thi trung hữu hoạ”. Hàng loạt từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” được đặt cạnh nhau tạo nên hiệu quả cộng hưởng tiếng nói rất cao. Những hình ảnh thơ nối nhau liên tục đã gọi cho người đọc tưởng tượng liên tưởng về ko gian mở. Ko chỉ sâu nhưng còn rất rộng, ko chỉ cao nhưng còn rất xa. Hình như khó khăn cứ chất chồng như từng dãy núi trùng trùng, điệp điệp.

Điều đặc trưng là những chiến sĩ Tây Tiến lại có cái nhìn rất trẻ trung, tinh nghịch và lãng mạn về hiện thực khó khăn đó. Trong đôi mắt họ, hiện thực dù khó khăn tới đâu cũng vẫn có nét đẹp, thú vui riêng. Họ vẫn có thể “mồm cười buốt giá” trước mọi gian lao:

Hẻo lánh cồn mây súng ngửi trời.

Câu thơ, tự nó đã tách ra làm hai phần. Nếu bốn tiếng thơ đầu còn diễn tả sự khó khăn, thì ba tiếng thơ sau đã ánh lên chút trẻ trung đầy lãng mạn. Từ láy “hẻo lánh” được đảo lên đầu như một điểm nhấn quan trọng cho câu thơ. Quang Dũng đã rất tinh tế lúc sử dụng “hẻo lánh” chứ ko phải “tun hút”. Hai từ láy thoạt nhìn có thể giống nhau, nhưng thực chất lại có ý nghĩa biểu đạt không giống nhau. Nếu “tun hút” gợi được chiều sâu và chỉ chiều sâu nhưng thôi thì “hẻo lánh” vừa gợi tả độ sâu, vừa đánh thức cảm giác trống vắng, lạnh lẽo, hoang vắng, quạnh hiu. Sự trống vắng đó do địa hình tạo nên và đã có tác động rất lớn tới con người. Trước ko gian rợn ngợp, con người vốn đã nhỏ nhỏ nay lại càng nhỏ nhỏ hơn. Nhưng cái “tâm” thì ko biên giới, ko độ cao nào có thể ngăn trở. Càng trong gian lao, nguy hiểm, sự can trường cũng như ý thức sáng sủa của người chiến sĩ càng cất cánh. Hình ảnh “súng ngửi trời” trình bày một tẹo dí dỏm, trẻ trung, một tẹo tinh nghịch, đáng yêu, đáng mến. Cũng chẳng có gì là lạ, bởi binh đoàn Tây Tiến đều xuất thân từ những thanh niên Thủ đô tuổi đời còn rất trẻ. Họ vẫn còn thiết tha yêu cuộc đời. Ý thơ đó sao nhưng giống với “đầu súng trăng treo” của Chính Hữu. Thì ra ở trong cùng một hoàn cảnh đấu tranh, những ý tưởng lớn đã gặp nhau và tạo ra mối liên kết bền chặt giữa những con người có cùng mục tiêu sống. Vượt lên trên cả hoàn cảnh, đó chính là tâm hồn người chiến sĩ.

Có thể nói, những trở ngại khó khăn đã trở thành một phần ko thể thiếu của đời lính và trở thành nỗi ám ảnh in sâu trọng tiềm thức tác giả. Quang Dũng ko bao giờ có thể nào quên.

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Thi sĩ đà tái tạo lại hình ảnh tiêu biểu; sống động nhất về một thời đầy khó khăn, thử thách. “Chiều chiều”, “đêm đêm” là những khoảng thời kì ước lệ, ko rõ là buổi chiều hay buổi đêm nào. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc ko phải một chiều, một đêm nhưng là rất nhiều. Những trắc trở khó khăn như trải dài cùng năm tháng.

Lúc mở đầu bài thơ Tây Tiến, ấn tượng trước hết hiện về trong Quang Dũng là những kỷ niệm về một thời khó khăn. Hình tượng người lính Tây Tiến luôn xuất hiện song hành với những trở ngại. Trên mỗi bước đường họ đi qua đều có những nguy hiểm ko chỉ từ quân thù nhưng còn từ tự nhiên đem lại. Nhưng cũng như bao người lính khác khó khăn ko làm chùn bước con người nhưng chi nâng tầm con người lên. Thật đáng khâm phục lúc trong hoàn cảnh nào, họ vẫn sáng sủa đầy trẻ trung tinh nghịch. Chính nét ý thức quý báu đó đã tạo nên sức sống trường tồn của Tây Tiến với muôn thuở.

Ko chi biết đương đầu với hiện thực khó khăn, nhưng còn hơn thế nữa, hình ảnh người lính Tây Tiến còn hiện lên với vẻ đẹp lãng mạn vô cùng – một nét đẹp của những người con đất Hà Thành ngày xưa.

Lúc xông pha trận mạc, người lính Tây Tiến có thể trở thành những người hùng đấu tranh quả cảm quả cảm, nhưng trong giờ phút giải lao, họ cũng thật gần gùi, thật thật tình. Bỏ lại những mũi đạn, hòn tên, gạt sang một bên những toan lo kháng chiến bộn bề, họ trở về với đúng tâm hồn mình: những tràng trẻ trai tuổi, hào hoa mộng mơ rất bình dị giữa đời thường. Qua lăng kính lãng mạn của họ, một buổi liên hoan văn nghệ bỗng chốc trở thành một đêm hội:

Doanh trại bừng lên hội hoa chúc

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khen lên mạn điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Ko gian đêm hội hoa chúc hiện lên thực rực rỡ lung linh, ngập tràn ánh sáng. Câu thơ trước như gọi câu sau. Nhạc thơ ngọt ngào du dương nhưng vẫn toát lên thú vui, niềm rộn rực đương bổi hổi trong ngực trẻ. Cộng hưởng với âm nhạc của câu chữ là âm thanh của tiếng khèn. Tất cả hoà quyện vào nhau, như vẫy gọi, chào mời, như gợi thương gợi nhớ, như trì níu, vương vấn. (Hình như đọc câu thơ, ko phải người). Và dường như ko phải đọc thơ rồi tìm thấy Quang Dũng trong thơ nhưng chính nhịp lòng nô nức mê say của người lính Tây Tiến đã toả rạng để dệt nên những vần thơ bất hủ.

Nếu ở khổ thơ đầu người ta còn thấy Quang Dũng đắm mình trong hồi ức về một thời khó khăn thì tới đây, những xúc cảm đó quả thực, tâm hồn người chiến sĩ Tây Tiến là cả một toàn cầu rộng sâu. Đi vào khám phá toàn cầu đó, có những lúc cái ta bắt gặp ko phải là thú vui, nhưng là những kỷ niệm buồn. Nét “bi” trong mỗi con người chiến sĩ Tây Tiến cùng thật đặc trưng: “bi” nhưng ko “luỵ”, “bi” nhưng ko gắn liền với nước mắt. Nồi buồn ở đây gắn với nỗi nhớ, thật dìu dịu, nhè nhẹ nhưng như mơn man, lan toả. Nỗi buồn đậm chất lãng mạn, mộng mơ. Mọi hình ảnh của thực tại đều bị nhoà đi rồi hoàn toàn mất tích, nhường chỗ cho miền nhớ miền thương đang thi nhau gọi về:

Người đi Châu Mộc chiều sương đó

Có thấy hồn lau nẻo bờ bến

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lù hoa đu đưa

Nhịp thơ đột ngột chuyển. Từ những dòng thơ sôi nổi, nô nức, mê say bỗng chuyển sang bâng khuâng pha chút ngậm ngùi hình ảnh thơ giờ lại càng mờ mờ, ảo ảo. Vì vậy tính chất lãng mạn ở đây như được nhân lên gấp đôi. Từng vần thơ sâu lắng cứ vang vang rồi in đậm, khắc sâu trong tiềm thức độc giả.

Có thể nói ở khổ thơ này Quang Dũng gợi nhiều hơn tả. Thi sĩ mở ra ko gian hư hư thực thực bằng hình ảnh buổi “chiều sương đó”. Hình như chữ “chiều sương” đã gợi nhớ, gợi thương cho thi sĩ nhiều quá, để từ đây hoài niệm thi nhau hiện về. Chỉ một từ “đó” thôi nhưng có sức đẩy hoài niệm về một miền rất xa trong quá khứ. Câu thơ có ắp đầy một nỗi nhớ niềm thương khó tả.

Cái hay của Quang Dũng là ông đã dùng chính sự lãng mạn của người lính Tây Tiến để tạo ra nhiều vần thơ đầy mộng mơ. Khổ thơ ko gợi ra những hình ảnh, cụ thể cụ thể nhưng chỉ là những “dáng”, những “hình”. Có cảm giác như trong nỗi niềm thương nhớ Quang Dũng đã nắm bắt được toàn thể thần thái sự vật và bất tử nó trong thi ca. Cảnh vật được nhìn qua lăng kính thương nhớ vì vậy trở thành mờ mờ, ảo ảo, hư hư, thực thực. Hai tiếng “có thấy”, “có nhớ” gieo thanh trắc như những nốt nhạc vút cao của khổ thơ, gợi nhắc con người về một thời quá khứ một cách thiết tha, ân tình.

Từ cái nhìn trực quan (có thấy) tới cái nhìn trong tâm tưởng (có nhớ) là cả sự chuyển biến trong xúc cảm. Hình như trái tim, tâm hồn của cố tri (Quang Dũng) đã được đánh thức, để rồi từ đây chỉ còn lại những vắng đọng cùng nồi buồn mênh mang trong lòng người.

Điểm nhấn của nỗi nhớ đó hướng về một hình ảnh đặc trưng: “trôi dòng nước lũ hoa đu đưa”. Câu thơ gợi ra hai hình ảnh đối lập: một mạnh mẽ (dòng nước lũ); một nhẹ nhõm, khe khẽ, dịu êm (hoa). Phải chăng hình ảnh “hoa đu đưa” ko còn là hình ảnh thực nữa nhưng đã trở thành nỗi nhớ, niềm thương tác giả? Chữ “đu đưa” được dùng rất tinh tế. “Đu đưa” chứ ko phải “đung đưa”. Bởi “đung đưa” chỉ có thể diễn tả trạng thái chuyển động, còn “đu đưa” diễn tả cả ánh mắt. Có nhẽ nào hình ảnh “hoa đu đưa”, cộng hưởng với “dáng người trên độc mộc” đã ngầm gợi nên hình ảnh người con gái’? Nhìn dưới góc độ đó thì tâm hồn người chiến sĩ Tây Tiến thật lãng mạn quá, đáng trọng đáng mến tới vô cùng.

Có thể nói người lính Tây Tiến là những chàng trai biết vượt lên trên hoàn cảnh. Chiến tranh thảm khốc với máu, với đạn lửa và nước mắt ko thể xoá đi sự lãng mạn trong tâm hồn họ. Kể cả lúc ranh giới giữa sự sống với cái chết liền kề, họ vẫn cất cao tiếng hát yêu cuộc đời. Họ lãng mạn cả lúc buồn. Họ mộng mơ cả lúc vui. Chính nét đẹp tâm hồn đó đã đưa họ tới gần với mọi thế hệ độc giả, và bất tử họ trong lòng người đọc muôn thuở.

Ko chi biết đương đầu với hiện thực khó khăn, sống lãng mạn, mộng mơ, người lính Tây Tiến còn hiện lên với tư cách những người hùng với tráng chí ngất trời.

Đối với người lính nói chung và binh đoàn Tây Tiến nói riêng, đã bước vào chiến tranh là phải chấp nhận khổ cực, hy sinh, mất mát. Nhưng ngời sáng ở những con người Tây Tiến oai hùng là cách tiếp thu hiên thực thản nhiên tới lạ kỳ. Họ biết tự biến khó khăn, khốc liệt thành niềm tự hào tự trọng cho chính mình:

Tây Tiến đoàn binh ko mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Ta đã từng thấy một “Tiểu đội xe ko kính” dí dỏm trong thơ Phạm Tiến Duật thì nay lại thấy một “đoàn binh ko mọc tóc” trong thơ Quang Dũng. Người lính Tây Tiên tự gọi tên đoàn binh của mình khá thú vị. Trong câu thơ người ta thấy chút ngang tàng của người lính trẻ tuổi. Tóc ko mọc ko phải vì bị bệnh nhưng vì “ko thèm mọc”. Cộng hưởng vào đó là nét kiêu hùng ‘‘Quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Hoàn cảnh thiếu thốn khó khăn chỉ là điều kiện tôi rèn thêm khí phách người hùng cho người lính Tây Tiến. Đọc câu thơ người ta thấy phơi phới một niềm tin tưởng, sáng sủa vào cuộc đời và in đậm một tráng chí kiêu hùng.

Mục tiêu của Quang Dũng lúc sáng tác Tây Tiến ko phải để dựng lên hình tượng người chiến sĩ tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ chỉ là tấm chân tình nhưng thi sĩ gửi tới đồng chí cho vợi đi nỗi nhớ đơn vị cũ. Nhưng chính tính chân thực trong xúc cảm đã cho người đọc một tấm chân dung sống động về người lính Tây Tiến. Họ ko hiện lên với khuôn mẫu của tráng trí, người hùng nhưng cũng rất đỗi lắm mộng, nhiều mơ:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Nếu câu thơ thứ nhất nhấn mạnh chữ “mộng” thì câu thơ thứ hai nhấn mạnh chữ “mơ”. Câu thơ mang vẹn nguyên cả ước vọng và điểm tới cuối cùng của đời lính Tây Tiến. Chữ “trừng” được sử dụng khá lạ mắt. Người đọc có cảm tưởng như mọi ước mơ khát khao tận đáy lòng đã trào dâng và đong đầy trong ánh mắt người lính. “Trừng” là động từ mạnh lại được đặt cạnh “mơ” – lúc đầu ngỡ như một sự khập khiễng. Nhưng thực ra câu thơ rất giàu trị giá biểu cảm. Từ “trừng” ko có nghĩa trừng trị, doạ nạt nhưng trình bày cái nhìn đau đáu, khôn nguôi, những nhung nhớ, khát khao tới khắc khoải. Câu thơ như trùng xuống trong xúc cảm bâng khuâng dâng tràn. Từ thơ đó gợi nhắc tới hình ảnh thơ thân thuộc:

Những đèm dài hành quân nung nấu

Bỗng ngay ngáy nhớ mắt người yêu.

(Non sông – Nguyễn Đình Thi)

Thì ra bao giờ cũng vậy, đích tới cuối cùng của những người lính luôn là hạnh phúc. Nồi nhớ của họ hướng cả về “dáng kiều thơm” nào đó ngoài cuộc đời. Họ ra đi đấu tranh vì tự do, độc lập, nhưng trước hết là vì cuộc sống tương lai khô nóng phúc nhưng họ khát khao. Chính vì vậy nhưng “dáng kiều thơm” trở thành điểm tựa, niềm kỳ vọng để tiếp thêm cho họ sức mạnh đấu tranh và thắng lợi.

Những người lính Tây Tiến sống người hùng nhưng chết cũng người hùng. Nhưng ko lúc nào trong bài thơ ta thấy hiện lên nét sầu thương, bi đát, bị luỵ, não nùng. Ngay cả lúc viết về cái chết, Quang Dũng vẫn nhấn mạnh cái dũng khí hùng tráng của đoàn binh Tây Tiến:

Anh bạn dãi dầu ko bước nữa

Gục lên súng mũ quên mất đời;

Tản mạn biên giới mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh;

Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lèn khúc độc hành.

Ba lần Quang Dũng nhắc tới sự hy sinh, nhưng lần nào cũng là hình ảnh ẩn dụ để tránh đi từ “chết”. Hình như lúc người lính Tây Tiến ngã xuống chỉ là lúc anh tạm nghỉ chân trước cuộc đời. Cái chết ko đồng nghĩa vói ngừng đấu tranh vì tâm hồn, vì ước nguyện của anh sè mãi trường tồn với thời kì. Anh ngã xuống nhưng vẫn kịp trao ngọn lửa tuổi xanh cho những đồng chí tiếp tục tuyến đường cách mệnh vinh quang. Sự hy sinh của các anh làm người đọc ko khỏi nghẹn ngào: “Tản mạn biên giới mồ viền xứ”. Chữ “tản mạn” được đảo lên đầu câu, nhấn mạnh cho sự quạnh quẽ, lạnh lẽo, hoang vắng. Người đọc thấy xót xa thay cho những người con đấu tranh vi Tổ quốc nhưng phải gửi xác nơi xứ người.

Nhưng đối với người trong cuộc họ ko cảm thấy xót xa đớn đau “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh“.

Câu thơ gợi nhắc người đọc về ý thơ Nguyễn Đình Thi: “Người ra tiên phong ko ngoảnh lại”. Câu thơ giống như một cái hất đầu ngạo nghễ, bất chấp khó khăn, bỏ mặc sự chết chóc kế cận, những người lính Tây Tiến vẫn kiên định trong ý chí, ngạo nghễ trong phí phách. Đó là tư chất người người hùng.

Nói về sự hy sinh của người lính, tác giả mượn hình ảnh áo bào. Câu thơ vừa mang sắc thái trang trọng, vừa cắt bớt sắc thái bi luỵ buồn thương. Đằng sau câu chữ là cả sự sẻ chia, đồng cảm cũng như trân trọng, mến thương thật tình nhưng tác giả dành cho người lính Tây Tiến.

Cuối khổ thơ hình ảnh sông Mã một lần nữa trở lại: Sông Mã được nhân hoá như một chứng nhân lịch sử theo suốt dọc cuộc đời binh đoàn Tây Tiến. Mở đầu bài thơ hình ảnh Tây Tiến được đi liền với đoàn binh thì tới cuối bài, chỉ còn “sông Mã gầm lên khúc độc hành” khúc nhạc độc thân, buồn thương khiến ta cảm động. Nỗi thương nhớ của lòng người đã hoá thân vào dòng sông hay chính dòng sông đó chở đi khúc ca đớn đau của con người? Câu thơ gợi lên sự hy sinh trong tráng chí, tư thế người người hùng.

Có nhẽ hình tượng người lính Tây Tiến đã trở thành bất tử với muôn thuở. Dòng lịch sử có thể thay đổi nhưng mọi thế hệ sau vẫn gợi nhắc tới các anh như hình tượng đẹp tươi nhất. Qua dòng hồi ức của Quang Dũng, những chiến sĩ Tây Tiến hiện lên trong sự đương đầu với khó khăn, khó khăn nhưng lúc nào cũng sáng sủa phơi phới yêu đời. Họ ra đi mang theo vẹn nguyên sự lãng mạn, mộng mơ của con người Hà Nội. Họ sống người hùng, hy sinh cũng người hùng. Vói âm hưởng thơ lúc dữ dội, lúc sôi nổi, lúc lại vang vọng, trầm lắng, bài thơ đã dẫn hồn người đọc trở về một thời quá khứ xưa, để cùng lắng cảm trong nỗi thương nhớ da diết của Quang Dũng về những đồng chí người hùng.

Tày Tiến đã trở thành một kỷ niệm đẹp trong lòng người đọc. Hình ảnh đoàn binh Tây Tiến cứ mãi gợi nhắc trong lòng ta về một thế hệ tuổi xanh. Hình ảnh thơ luôn quấn lấy ta, khiến ta xúc động nghẹn ngào bởi:

Người nào lên Tây Tiến mùa xuân đó

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, thầy cô giáo dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương – Việt Trì – Phú Thọ)

Bạn thấy bài viết Giỏi Văn – Bài văn: Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” (1) có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu  ko hãy comment góp ý thêm về Giỏi Văn – Bài văn: Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” (1) bên dưới để yt2byt.edu.vn có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho độc giả nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế II

Phân mục: Ngữ Văn

Nguồn: yt2byt.edu.vn

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button